vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Tự bạch : Nhiều bạn Newbie có hỏi Page hoặc Adminstrator “ Hack là như thế nào ? Làm sao để hack ?” Nhưng các bạn đã quên mất một điều là các bạn cần phảI có kiến thức một cách tổng quát , hiểu các thuật ngữ mà những người rành về mạng hay sử dụng . Riêng tôi thì chưa thật giỏi bao nhiêu nhưng qua nghiên cứu tôi cũng đã tổng hợp được một số kiến thức cơ bản , muốn chia sẻ cho tất cả các bạn , nhằm cùng các bạn học hỏi . Tôi sẽ không chịu trách nhiệm nếu các bạn dùng nó để quậy phá ngườI khác . Các bạn có thể copy hoặc post trong các trang Web khác nhưng hãy điền tiên tác giả ở dướI bài , tôn trọng bài viết này cũng chính là tôn trọng tôi và công sức của tôi , đồng thờI cũng tôn trọng chính bản thân các bạn . Trong này tôi cũng có chèn thêm một số cách hack , crack và ví dụ căn bản , các bạn có thể ứng dụng thử và nghiên cứu đọc nó để hiểu thêm , rồ khi bắt gặp một từ mà các bạn không hiểu thì hãy đọc bài này để biết , trong này tôi có sử dụng một số ý của bài viết mà tôi thấy rất hay từ trang Web của HVA , và các trang Web khác mà tôi đã từng ghé thăm . Xin cảm ơn những tác giả đã viết những bài ấy . Bây giờ là vấn đề chính . 

==================================================== 

1 . ) Ta cần những gì để bắt đầu ? 

Có thể nhiều bạn không đồng ý với tôi nhưng cách tốt nhất để thực tập là các bạn hãy dùng HĐH Window 9X , rồI đến các cái khác mạnh hơn đó là Linux hoặc Unix , dướI đây là những cái bạn cần có : 
+ Một cái OS ( có thể là DOS , Window 9X , Linux , Unit ….) 
+ Một cái trang Web tốt ( HVA chẳng hạn hi`hi` ) 
+ Một bộ trình duyệt mạng tốt ( là Nescape , IE , nhưng tốt nhất có lẽ là Gozzila ) 
+ Một công cụ chat tốt ( mIRC ,Yahoo Mass …..) 
+ Telnet ( hoặc những cái tương tự như nmap …) 
+ Cái quan trọng nhất mà bất cứ ai muốn trở thành một hacker là đều phảI có một chút kiến thức về lập trình ( C , C++ , Visual Basic , Pert …..) 

2 . ) Thế nào là một địa chỉ IP ? 

_ Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte -> !P có kicks thước là 4byte, được chia thành các lớp địa chỉ. Có 3 lớp là A, B, và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25,chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức. Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai. ( có IP là 132.25.x.) 
_ IP là từ viết tắt của Internet Protocol, trên Internet thì địa chỉ IP của mỗI người là duy nhất và nó sẽ đạI diện cho chính ngườI đó, địa chỉ IP được sử dụng bởi các máy tính khác nhau để nhận biết các máy tính kết nối giữa chúng. Đây là lí do tại sao bạn lại bị IRC cấm, và là cách người ta tìm ra IP của bạn. 
Địa chỉ IP có thể dễ dàng phát hiện ra, người ta có thể lấy được qua các cách sau : 
+ bạn lướt qua một trang web, IP của bạn bị ghi lại 
+ trên IRC, bất kì ai cũng có thể có IP của bạn 
+ trên ICQ, mọi người có thể biết IP của bạn, thậm chí bạn chọn "do not show ip" người ta vẫn lấy được nó 
+ nếu bạn kết nối với một ai đó, họ có thế gõ "systat –n ", và biết được ai đang kết nối đên họ 
+ nếu ai đó gửi cho bạn một email với một đoạn mã java tóm IP, họ cũng có thể tóm được IP của bạn 
( Tài liệu của HVA ) 

3 . ) Làm thế nào để biết được địa chỉ IP của mình ? 

_ Trong Window : vào Start Run đánh lệnh “winipcfg” . 
_ Trong mIRC : kết nốI đến máy chủ sau đó đánh lệnh “/dns <your nick>” 
_ Thông qua một số trang Web có hiển thị IP . 

4 . ) IP Spoofing là gì ? 

_ Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ. 
Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần dấu thông tin cá nhân! 
( Tài liệu của HVA ) 

5 . ) Trojan / worm / virus / logicbomb là cái gì ? 

_ Trojan : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình điệp viên được cài vào máy của ngườI khác để ăn cắp nhũng tài liệu trên máy đó gửI về cho chủ nhân của nó , Cái mà nó ăn cắp có thể là mật khẩu , accourt , hay cookie ………. tuỳ theo ý muốn của ngườI cài nó . 
_ virus : Nói cho dễ hiểu thì đây là chương trình vớI những mã đặc biệt được cài ( hoặc lây lan từ máy khác ) lên máy của nạn nhân và thực hiện những yêu cầu của mã đó , đa số virut được sử dụng để phá hoạI dữ liệu hoặc phá hoạI máy tính . 
_ worm : Đây là chương trình độc lập có thể tự nhân bản bản thân nó và lây lan khắp bên trong mạng .Cũng giống như Virut , nó cũng có thể phá hoạI dữ liệu , hoặc nó có thể phá hoạI bên trong mạng , nhiều khi còn làm down cả mang đó . 
_ logicbomb : Là chương trình gửi một lúc nhiều gói dữ liệu cho cùng một địa chỉ , làm ngập lụt hệ thống , tắt nghẽn đường truyền ( trên server ) hoặc dùng làm công cụ để “khủng bố” đốI phương ( bom Mail ) ;) . 

6 . ) PGP là gì ? 

_ PGP là viết tắt của từ “Pretty Good Privacy” , đây là công cụ sử dụng sự mã hoá chìa khoá công cộng để bảo vệ những hồ sơ Email và dữ liệu , là dạng mã hoá an toàn cao sử dụng phần mềm cho MS_DOS , Unix , VAX/VMS và cho những dạng khác . 

7 . ) Proxy là gì ? 

_Proxy cung cấp cho người sử dụng truy xuất internet với những host đơn. Những proxy server phục vụ những nghi thức đặt biệt hoặc một tập những nghi thức thực thi trên dual_homed host hoặc basion host. Những chương trình client của người sử dung sẽ qua trung gian proxy server thay thế cho server thật sự mà người sử dụng cần giao tiếp. Proxy server xác định những yêu cầu từ client và quyết định đáp ứng hay không đáp ứng, nếu yêu cầu được đáp ứng, proxy server sẽ kết nối với server thật thay cho client và tiếp tục chuyển tiếp đến những yêu cầu từ clientđến server, cũng như đáp ứng những yêu cầu của server đến client. Vì vậy proxy server giống cầu nối trung gian giữa server và client . 
_ Proxy cho user truy xuất dịch vụ trên internet theo nghĩa trực tiếp. Với dual host homed cần phải login vào host trước khi sử dụng dịch vụ nào trên internet. Điều này thường không tiện lợi, và một số người trể nên thất vọng khi họ có cảm giác thông qua firewall, với proxy nó giải quyết được vấn đề này. Tất nhiên nó còn có những giao thức mới nhưng nói chung nó cũng khá tiện lợi cho user. Bởi vì proxy cho phép user truy xuất những dịch vụ trên internet từ hệ thống cá nhân của họ, vì vậy nó không cho phép packet đi trực tiếp giữa hệ thống sử dụng và internet. đường đi là giáng tiếp thông qua dual homed host hoặc thông qua sự kết hợp giữa bastion host và screening rounter. 

( Bài viết của Z3RON3 – tài liệu của HVA ) 

8 . ) Unix là gì ? 

_ Unix là một hệ điều hành ( giống Window ) .Nó hiện là hệ điều hành mạnh nhất , và thân thiết với các Hacker nhất . Nếu bạn đã trở thành một hacker thật sự thì HĐH này không thể thiếu đối vớI bạn . Nó được sử dụng hỗ trợ cho lập trình ngôn ngữ C . 

9 . ) Telnet là gì ? 

_ Telnet là một chương trình cho phép ta kết nốI đến máy khác thông qua cổng ( port ) . MọI máy tính hoặc máy chủ ( server ) đều có cổng , sau đây là một số cổng thông dụng : 
+ Port 21: FTP 
+ Port 23: Telnet 
+ Port 25: SMTP (Mail) 
+ Port 37: Time 
+ Port 43: Whois 
_ Ví dụ : bạn có thể gọI Telnet để kết nốI đến mail.virgin.net trên port 25 . 

10 . ) Làm thế nào để biết mình đã Telnet đến hệ thống Unix ? 

_ Ok , tôi sẽ nói cho bạn biết làm sao một hệ thống Unix có thể chào hỏI bạn khi bạn kết nối tới nó . Đầu tiên , khi bạn gọi Unix , thông thường nó sẽ xuất hiện một dấu nhắc : “ Log in : ” , ( tuy nhiên , chỉ với như vậy thì cũng chưa chắc chắn đây là Unix được ngoạI trừ chúng xuất hiện thông báo ở trước chữ “ log in :” như ví dụ : Welcome to SHUnix. Please log in ….) 
Bây giờ ta đang ở tạI dấu nhắc “log in” , bạn cần phảI nhập vào một account hợp lệ . Một account thông thường gồm có 8 đặc tính hoặc hơn , sau khi bạn nhập account vào , bạn sẽ thấy có một mật khẩu , bạn hãy thử nhập Default Password thử theo bảng sau : 

Account-------------------------Default Password 


Root-----------------------------------------------Root 
Sys------------------------------------------------Sys / System / Bin 
Bin-------------------------------------------------Sys / Bin 
Mountfsy------------------------------------------Mountfsys 
Nuuc-----------------------------------------------Anon 
Anon-----------------------------------------------Anon 
User------------------------------------------------User 
Games---------------------------------------------Games 
Install----------------------------------------------Install 
Demo-----------------------------------------------Demo 
Guest----------------------------------------------Guest 


11 . ) shell account là cái gì ? 

_ Một shell account cho phép bạn sử dụng máy tính ở nhà bạn như thiết bị đầu cuốI ( terminal ) mà vớI nó bạn có thể đánh lệnh đến một máy tính đang chạy Unix , “Shell” là chương trình có nhiệm vụ dịch những ký tự của bạn gửi đến rồI đưa vào thực hiện lệnh của chương trình Unix . VớI một shell account chính xác bạn có thể sử dụng được một trạm làm việc mạnh hơn nhiều so vớI cái mà bạn có thể tưởng tượng đến được . 
Bạn có thể lấy được “shell account” miễn phí tạI trang Web www.freeshell.com tuy nhiên bạn sẽ không sử dụng được “telnet” cho đến khi bạn trả tiền cho nó . 

12 . ) Làm cách nào để bạn có thể crack Unix account passwords ? 

_ Rất đơn giản , tuy nhiên cách mà tôi nói vớI các bạn ở đây “lạc hậu” rồI , các bạn có thể crack được chúng nếu các bạn may mắn , còn không thì các bạn đọc để tham khảo . 
_ Đầu tiên bạn hãy đăng nhập vào hệ thống có sử dụng Unix như một khách hàng hoặc một ngườI khách ghé thăm , nếu may mắn bạn sẽ lấy được mật khẩu được cất dấu trong những hệ thống chuẩn như : 

/etc/passwd 

mỗi hàng trong một hồ sơ passwd có một tài khoản khác nhau , nó giống như hàng này : 

userid:password:userid#:groupid#:GECOS field:home dir:shell 

trong đó : 
+ userid = the user id name : tên đăng nhập : có thể là một tên hoặc một số . 
+ password : mật mã . Dùng để làm gì hẳn các bạn cũng biết rồI . 
+ userid# : là một số duy nhất đựơc thông báo cho ngườI đăng ký khi họ đăng ký mớI ở lần đầu tiên . 
+ groupid# : tương tự như userid# , nhưng nó được dùng cho những ngườI đang ở trong nhóm nào đó ( như nhóm Hunter Buq của HVA chẳng hạn ) 
+ GECOS FIELD : đây là nơi chứa thông tin cho ngườI sử dụng , trong đó có họ tên đầy đủ , số điện thoại , địa chỉ v.v…. . Đây cũng là nguồn tốt để ta dễ dàng crack một mật khẩu . 
+ home dir : là thư mục ghi lạI hoạt động của người khách khi họ ghé thăm ( giống như mục History trong IE vậy ) 
+ Shell : đây là tên của shell mà nó tự động bắt đầu khi ta login . 
_ Hãy lấy file password , lấy file text đã mã hoá về , sau đó bạn dùng chương trình "CrackerJack" hoặc "John the Ripper" để crack . 
_ Các bạn thấy cũng khá dễ phảI không ? Sai bét , không dễ dàng và may mắn để bạn có thể crack được vì hầu hết bây giờ họ cất rất kỹ , hãy đọc tiếp bạn sẽ thấy khó khăn chỗ nào . 

13 . ) shadowed password là cái gì ? 

_ Một shadowed password được biết đến là trong file Unix passwd , khi bạn nhập một mật khẩu , thì ngườI khác chỉ thấy được trình đơn của nó ( như ký hiệu “ X ” hoặc “ * ” ) . Cái này thông báo cho bạn biết là file passwd đã được cất giữ ở nơi khác , nơi mà một ngườI sử dụng bình thường không thể đến được . Không lẽ ta đành bó tay , dĩ nhiên là đốI vớI một hacker thì không rùi , ta không đến được trực tiếp file shadowed password thì ta hãy tìm file sao lưu của nó , đó là file Unshadowed . 
Những file này trên hệ thống của Unix không cố định , bạn hãy thử vớI lần lượt những đường dẫn sau : 

CODE 
AIX 3 /etc/security/passwd ! 
or /tcb/auth/files/<first letter #of username>/<username> 
A/UX 3.0s /tcb/files/auth/?/ * 
BSD4.3-Reno /etc/master.passwd * 
ConvexOS 10 /etc/shadpw * 
ConvexOS 11 /etc/shadow * 
DG/UX /etc/tcb/aa/user/ * 
EP/IX /etc/shadow x 
HP-UX /.secure/etc/passwd * 
IRIX 5 /etc/shadow x 
Linux 1.1 /etc/shadow * 
OSF/1 /etc/passwd[.dir|.pag] * 
SCO Unix #.2.x /tcb/auth/files/<first letter *of username>/<username> 
SunOS4.1+c2 /etc/security/passwd.adjunct =##username 
SunOS 5.0 /etc/shadow 
<optional NIS+ private secure 
maps/tables/whatever> 
System V Release 4.0 /etc/shadow x 
System V Release 4.2 /etc/security/* database 
Ultrix 4 /etc/auth[.dir|.pag] * 
UNICOS /etc/udb =20 


Trước dấu “ / ”đầu tiên của một hàng là tên của hệ thống tương ứng , hãy căn cứ vào hệ thông thật sự bạn muốn lấy rồI lần theo đường dẫn phía sau dấu “/”đầu tiên . 
Và cuốI cùng là những account passwd mà tôi từng crack được , có thể bây giờ nó đã hết hiệu lực rồI : 

CODE 
arif:x:1569:1000:Nguyen Anh Chau:/udd/arif:/bin/ksh 
arigo:x:1570:1000:Ryan Randolph:/udd/arigo:/bin/ksh 
aristo:x:1573:1000:To Minh Phuong:/udd/aristo:/bin/ksh 
armando:x:1577:1000:Armando Huis:/udd/armando:/bin/ksh 
arn:x:1582:1000:Arn mett:/udd/arn:/bin/ksh 
arne:x:1583:1000:Pham Quoc Tuan:/udd/arne:/bin/ksh 
aroon:x:1585:1000:Aroon Thakral:/udd/aroon:/bin/ksh 
arozine:x:1586:1000: Mogielnicki:/udd/arozine:/bin/bash 
arranw:x:1588:1000:Arran Whitaker:/udd/arranw:/bin/ksh 


Để bảo đảm sự bí mật nên pass của họ tôi xoá đi và để vào đó là ký hiệu “ x ” , các bạn hãy tìm hiểu thông tin có được từ chúng xem . 

( (Hết ) 

Còn rất nhiều định nghĩa cũng như thủ thuật hack và crack khác tôi muốn cùng chia sẻ vớI các bạn , đặc biệt là các bạn Newbie . Tôi sẽ lần lượt post lên trong thời gian tới , mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn để những phần sau được viết hay hơn . 
Hãy nhớ , hack cũng là một nghệ thuật và rất cần sự ham thích học hỏi cũng như sự kiên trì của các bạn . Sẽ có ngày các bạn cũng sẽ giỏI thôi . Chúc các bạn vui vẻ . 

Adminstrator Hacker Việt nam tiếp tục gửi đến các bạn phần 2 cùa bài 1.
12 . ) Vitual port là gì ?
  • Vitual port ( cổng ảo ) là 1 số tự nhiên đựợc gói ở trong TCP(Tranmission Control Protocol) và UDP(User Diagram Protocol) header.
Như mọi nguòi đã biết, Windows có thể chạy nhiều chương trình 1 lúc, mỗi chương trình này có 1 cổng riêng dùng để truyền và nhận dữ liệu. Ví dụ 1 máy có địa chỉ IP là 127.0.0.1 chạy WebServer, FTP_Server, POP3 server, etc, những dịch vụ này đều đuọc chạy trên 1 IP address là 127.0.0.1, khi một gói tin đuọc gửi đến làm thế nào máy tính của chúng ta phân biệt được gói tin này đi vào dịch vụ nào WebServer hay FTP server hay SM! TP? Chính vì thế Port xuất hiện. Mỗi dịch vụ có 1 số port mặc định, ví dụ FTP có port mặc định là 21, web service có port mặc định là 80, POP3 là 110, SMTP là 25 vân vân….
Người quản trị mạng có thể thay đổi số port mặc định này, nếu bạn ko biết số port trên một máy chủ, bạn ko thể kết nối vào dịch vụ đó được. Chắc bạn đã từng nghe nói đến PORT MAPPING nhưng có lẽ chưa biết nó là gì và chức năng thế nào. Port mapping thực ra đơn giản chỉ là quá trình chuyển đổi số port mặc định của một dịch vụ nào đó đến 1 số khác. Ví dụ Port mặc định của WebServer là 80, nhưng thỉnh thoảng có lẽ bạn vẫn thấyhttp://www.xxx.com:8080 , 8080 ở đây chính là số port của host xxx nhưng đã đuợc nguòi quản trị của host này “map“ từ 80 thành 8080.
13 . ) DNS là gì ?
DNS là viết tắt của Domain Name System. Một máy chủ DNS đợi kết nối ở cổng số 53, có nghĩa là nếu bạn muốn kết nối vào máy chủ đó, bạn phải kết nối đến cổng số 53. Máy chủ chạy DNS chuyển hostname bằng các chữ cái thành các chữ số tương ứng và ngược lại. Ví dụ: 127.0.0.1 — > localhost và localhost— > 127.0.0.1 . (các bạn nhớ kỹ nhé, DNS rất quan trọng đấy ^^)
14 . ) Đôi điều về Wingate :
  • WinGate là một chương trình đơn giản cho phép bạn chia các kết nối ra. Thí dụ: bạn có thể chia sẻ 1 modem với 2 hoặc nhiều máy . WinGate dùng với nhiều proxy khác nhau có thể che giấu bạn .
_ Làm sao để Wingate có thể che dấu bạn ? Hãy làm theo tôi : Bạn hãy telnet trên cổng 23 trên máy chủ chạy WinGate telnet proxy và bạn sẽ có dấu nhắc WinGate > . Tại dấu nhắc này bạn đánh vào tên server, cùng một khoảng trống và cổng bạn muốn kết nối vào. VD :
CODE
telnet wingate.net
WinGate > victim.com 23
ta telnet đến cổng 23 vì đây là cổng mặc định khi bạn cài Wingate . lúc này IP trên máy mà victim chộp được của ta là IP của máy chủ chứa Wingate proxy đó .
_ Làm sao để tìm Wingate ?
+ Nếu bạn muốn tìm IP WinGates tĩnh (IP không đổi) thì đến yahoo hay một trang tìm kiếm cable modem. Tìm kiếm cable modems vì nhiều người dùng cable modems có WinGate để họ có thể chia sẻ đường truyền rộng của nó cable modems cho những máy khác trong cùng một nhà . Hoặc bạn có thể dùng Port hay Domain scanners và scan Port 1080 .
+ Để tìm IP động (IP thay đổi mỗi lần user kết nối vào internet) của WinGates bạn có thể dùng Domscan hoặc các chương trình quét khác . Nếu dùng Domscan bạn hãy nhập khoảng IP bất kỳ vào box đầu tiên và số 23 vào box thứ 2 . Khi đã có kết quả , bạn hãy thử lần lượt telnet đến các địa chỉ IP tìm đựơc ( đã hướng dẫn ở trên ), nếu nó xuất hiện dấu “Wingate > ” thì bạn đã tìm đúng máy đang sử dụng Wingate rồI đó .
+ Theo kinh nghiệm của B_2_S thì bạn hãy down wingatescanner về mà sài , nó có rất nhièu trên mạng .
15 . ) Đôi điều về Traceroute :
  • Traceroute là một chương trình cho phép bạn xác định được đường đi của các gói packets từ máy bạn đến hệ thống đích trên mạng Internet.
_ bạn hãy xem VD sau :
CODE
C:\windows > tracert 203.94.12.54
Tracing route to 203.94.12.54 over a maximum of 30 hops
abc.netzero.com (232.61.41.251) 2 ms 1 ms 1 ms
xyz.Netzero.com (232.61.41.0) 5 ms 5 ms 5 ms
3 232.61.41.10 (232.61.41.251) 9 ms 11 ms 13 ms
4 we21.spectranet.com (196.01.83.12) 535 ms 549 ms 513 ms
isp.net.ny (196.23.0.0) 562 ms 596 ms 600 ms
6 196.23.0.25 (196.23.0.25) 1195 ms1204 ms
backbone.isp.ny (198.87.12.11) 1208 ms1216 ms1233 ms
asianet.com (202.12.32.10) 1210 ms1239 ms1211 ms
south.asinet.com (202.10.10.10) 1069 ms1087 ms1122 ms
10 backbone.vsnl.net.in (203.98.46.01) 1064 ms1109 ms1061 ms
11 newdelhi-01.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.01) 1185 ms1146 ms1203 ms
12 newdelhi-00.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.02) ms1159 ms1073 ms
13 mtnl.net.in (203.194.56.00) 1052 ms 642 ms 658 ms
Tôi cần biết đường đi từ máy tôi đến một host trên mạng Internet có địa chỉ ip là 203.94.12.54. Tôi cần phải tracert đến nó! Như bạn thấy ở trên, các gói packets từ máy tôi muốn đến được 203.94.12.54 phải đi qua 13 hops(mắc xích) trên mạng. Đây là đưòng đi của các gói packets .
_ Bạn hãy xem VD tiếp theo :
CODE
host2 # traceroute xyz.com
traceroute to xyz.com (202.xx.12.34), 30 hops max, 40 byte packets
isp.net (202.xy.34.12) 20ms 10ms 10ms
xyz.com (202.xx.12.34) 130ms 130ms 130ms
Dòng đầu tiên cho biết hostname và địa chỉ IP của hệ thống đích. Dòng này còn cho chúng ta biết thêm giá trị TTL<=30 và kích thước của datagram là 40 bytes(20-bytes IP Header + 8-bytes UDP Header + 12-bytes user data).
+ Dòng thứ 2 cho biết router đầu tiên nhận được datagram là 202.xy.34.12, giá trị của TTL khi gởi đến router này là 1. Router này sẽ gởi trở lại cho chương trình traceroute một ICMP message error “Time Exceeded“. Traceroute sẽ gởi tiếp một datagram đến hệ thống đích.
+ Dòng thứ 3, xyz.com(202.xx.12.34) nhận được datagram có TTL=1(router thứ nhất đã giảm một trước đó – TTL=2-1=1). Tuy nhiên, xyz.com không phải là một router, nó sẽ gởi trở lại cho traceroute một ICMP error message “Port Unreachable“. Khi nhận được ICMP message này, traceroute sẽ biết được đã đến được hệ thống đích xyz.com và kết thúc nhiệm vụ tại đây.
+ Trong trường hợp router không trả lời sau 5 giây, traceroute sẽ in ra một dấu sao “*“(không biết) và tiếp tục gởi datagram khác đến host đích!
_Chú ý:
Trong windows: tracert hostname
Trong unix: traceroute hostname

16 . ) Ping và cách sử dụng :
  • Ping là 1 khái niệm rât đơn giản tuy nhiên rất hữu ích cho việc chẩn đoán mạng. Tiểu sử của từ “ping“ như sau: Ping là tiếng động vang ra khi 1 tàu ngầm muốn biết có 1 vật thể khác ở gần mình hay ko, nếu có 1 vật thể nào đó gần tàu ngầm tiếng sóng âm này sẽ va vào vật thể đó và tiếng vang lại sẽ là “pong“ vậy thì tàu ngầm đó sẽ biết là có gì gần mình.
_Trên Internet, khái niệm Ping cũng rất giống với tiểu sử của nó như đã đề cập ở trên. Lệnh Ping gửi một gói ICMP (Internet Control Message Protocol) đến host, nếu host đó “pong“ lại có nghĩa là host đó tồn tại (hoặc là có thể với tới đựoc). Ping cũng có thể giúp chúng ta biêt được luợng thời gian một gói tin (data packet) đi từ máy tính của mình đến 1 host nào đó.
_Ping thật dễ dàng, chỉ cần mở MS-DOS, và gõ “ping địa_chỉ_ip“, mặc định sẽ ping 4 lần, nhưng bạn cũng có thể gõ
CODE
“ping ip.address -t“
Cách này sẽ làm máy ping mãi. Để thay đổi kích thước ping làm như sau:
CODE
“ping -l (size) địa_chỉ_ip “
_Cái ping làm là gửi một gói tin đến một máy tính, sau đó xem xem mất bao lâu gói tin rồi xem xem sau bao lâu gói tin đó quay trở lại, cách này xác định được tốc độ của kết nối, và thời gian cần để một gói tin đi và quay trở lại và chia bốn (gọi là “trip time“). Ping cũng có thể được dùng để làm chậm đi hoặc đổ vỡ hệ thống bằng lụt ping. Windows 98 treo sau một phút lụt ping (Bộ đệm của kết nối bị tràn – có qua nhiều kết nối, nên Windows quyết định cho nó đi nghỉ một chút). Một cuộc tấn công “ping flood” sẽ chiếm rất nhiều băng thông của bạn, và bạn phải có băng thông lớn hơn đối phương ( trừ khi đối phương là một máy chạy Windows 98 và bạn có một modem trung bình, bằng cách đó bạn sẽ hạ gục đối phương sau xấp xỉ một phút lụt ping). Lụt Ping không hiệu quả lắm đổi với những đối phương mạnh hơn một chút. trừ khi bạn có nhiều đường và bạn kiểm soát một số lượng tương đối các máy chủ cùng ping mà tổng băng thông lơn hơn đối phương.
  • Chú ý: option –t của DOS không gây ra lụt ping, nó chỉ ping mục tiêu một cách liên tục, với những khoảng ngắt quãng giữa hai lần ping liên tiếp. Trong tất cả các hệ Unix hoặc Linux, bạn có thể dùng ping -f để gây ra lụt thực sự. Thực tế là phải ping -f nếu bạn dùng một bản tương thích POSIX (POSIX – Portable Operating System Interface dựa trên uniX), nếu không nó sẽ không phải là một bản Unix/Linux thực sự, bởi vậy nếu bạn dùng một hệ điều hành mà nó tự cho nó là Unix hay Linux, nó sẽ có tham số -f.

Thân chào tất cả các bạn , nhằm đáp ứng nhu cầu học hỏi trong hacking và security, fantomas311 đã biên soạn một bộ bài viết "Basic hacking" và các bài viết liên quan đến hacking hệ thống để giới thiệu đến các bạn . Xin khuyến cáo với những ai muốn học hack một cách fast food là các bạn không nên đọc bài viết này ! Vì tôi không post những bài dạy hack cho các bạn , mà tôi chỉ post bài theo phương châm "hack như thế nào" . Hãy đọc , suy nghĩ và làm bằng đôi tay và khối óc của mình !! Trước khi các hacker thực sự bắt tay vào việc, họ phải tiến hành 3 bước cơ bản là in dấu ấn (foot printing) , Quét (scanning) và điểm danh(enumeration). Bài viết này đề cập đến kỹ thuật in dấu ấn và những vấn đề liên quan. **In dấu ấn là gì ??** In dấu ấn là việc dùng các công cụ và kỹ thuật để lấy thông tin cơ bản đầu tiên về một tổ chức hoặc một chuyên khu web muốn tấn công ( trong bài viết này tạm gọi là victim). Việc in dấu ấn có hệ thống một tổ chức sẽ cho phép hacker thấy rõ tình hình an ninh ( độ bảo mật) của tổ chức đó. **Tại sao cần in dấu ấn ??** Foot Printing giúp có thể định danh tất cả các mẩu tin và nắm những thông tin cơ bản (đôi khi khá quan trọng) về victim ** Kỹ thuật in dấu ấn ** Có rất nhiều kỹ thuật in dấu ấn khác nhau, bài viết này sẽ mô tả các bước giúp bạn hoàn thành một đợt phân tích dấu ấn kỹ lưỡng. *Bước 1: định phạm vi hoạt động: Bước này nói cho đơn giản là bạn phải xác định rõ cái mà bạn muốn hack là gì ( một công ty , một server hay chỉ là một web cá nhân ... ) - Đối với người mới bắt đầu, bạn nên đọc kỹ và ghi lại những thông tin mà trang web cung cấp cho bạn ( những thông tin về nó , như số ĐT , mail của webmaster , địa chỉ ....). Có nhiều khi những thông tin này lại là "chiếc chìa khoá vàng" cho bạn :) Những mục đáng quan tâm bao gồm : + Các vị trí + Các công ty hoặc thực thể liên quan + Các kết nối hoặc tin tức có được + Các ngôn ngữ bảo mật nêu rõ các cơ chế bảo mật đã thiết đặt ( cấu hình fire wall chẳng hạn ) + Các số điện thoại , tên liên lạc và Email ..... Ngoài ra, bạn cũng có thể xem lại mã nguồn HTML để tìm những sơ hở trong lập trình , bên cạnh đó , những chú thích nằm trong các thẻ HTML như < !="" và="" ~="" cũng="" là="" một="" "="" tài="" nguyên"="" đáng="" khai="" thác="" !!="" (="" thí="" dụ="" như="">:D ) Sau khi nghiên cứu trang web , bạn tìm thêm những thông tin cung cấp các manh mối bổ sung về tình trạng của tổ chức và tình hình an ninh của nó ( trên báo chí , các bản tin trên NET chẳng hạn) . Những động cơ tìm kiếm là chìa khoá cho bạn . Sau đây là một vài động cơ tìm kiếm : http://google.com :) http://sec.gov http://cyberarmy.com Http://deja.com http://networksolution.com http://dogpile.com http://astalavista.com http://ipswich.com http://arin.net/whois/ http://ferretsoft.com Okie, hãy tiến hành bước đấu tiên trong kỹ thuật Hack !! B) *Bước 2 : điểm danh mạng Trong bước này , việc đầu tiên là định danh các domain và mạng có liên quan đến victim . Muốn làm điều này , hãy truy xuất dữ liệu của network solution ( www.networksolution.com ) và American Registry for Internet Number ( www.arin.net ) Một số kiểu truy vấn : +Organizational : Tất cả các thông tin có liên quan đến một tổ chức cụ thể +Domain:---------------------------------- domain ------- +Network:-----------------------------------mạng hoặc IP +Point of contact:-------------------------1 cá nhân cụ thể ( admin ) *Bước 3 : Truy vấn DNS Sau khi định danh các domain của tổ chức đích (victim), bạn có thể bắt đầu truy vấn DNS . Nếu DNS được cấu hình bấp bênh, ta có thể moi được thông tin tiết lộ về tổ chức . Một trong những cách cấu hình sai nghiêm trọng nhất mà một điều hành viên có thể mắc phải là cho phép người dùng internet không tin cậy thực hiện chuyển giao miền DNS ( zone transfer). Sự cố này có thể cho thấy tên hệ chủ, các IP ẩn .... nói chung là các thông tin muốn che dấu ! Việc cung cấp địa chỉ IP bên trong cho 1 người dùng không tin cậy trên internet cũng giống như cung cấp bản đồ ngôi nhà mình cho kẻ trộm vậy !! Đến đây, có lẽ bạn có một câu hỏi " Zone transfer - how ??" . Xin thưa là đây là một vấn đề khác, có lẽ tôi sẽ đề cập trong một bài viết khác của mình để tránh loãng bài viết :). Kết thúc bước 3 tại đây ! *Bước 4: trinh sát mạng Sau khi đã có bản đồ trong tay, thì đây là giai đoạn "xâm nhập thực tế" để xác định lộ trình truy cập tiềm năng mạng ( tạm hiểu như là việc do thám để xác định các con đường trước khi tiến hành đánh cướp á mà ! ) Để thực hiện công việc này , xin giới hiệu các bạn chương trình trace route ( ftp://ftp.ec.lbl/traceroute.tar.z ) có trong hầu hết phiên bản của Unix & WinNT . Trong WinNT , nó có tên là tracert. Trace route là một công cụ chẩn đoán do Van Jacobson viết để cho phép xem tuyến đường mà một gói tin IP sẽ theo từ server này sang server khác Nếu bạn không rành các lệnh trong Unix , có thể dùng VIsual Route ( http://www.visualroute.com ) để thực hiện tiến trình trinh sát(tracerouting) này . Giao diện của visual route trông rất bắt mắt & dễ sử dụng. Nhưng không có tác dụng tốt với các mạng có quy mô lớn . Ngoài ra , bạn còn có thể thực hiện một kỹ thuật phức tạp hơn gọi là "tiến trình quét giao thức firewall" (sẽ đề cập ở Basic hacking II - Scanning của fantomas311 ) Vậy là công đoạn đầu tiên của việc hack vào một hệ thống đã xong . Bây giờ, sau khi đã thực hiện hoàn tất các bước trên, bạn ( tôi chỉ nói những người đã làm đúng các bước trên) có thể tự hỏi : "vậy có tác dụng gì ??" Làm gì tiếp theo??" "những thông tin thu được có tác dụng gì?" " Có nhất thiết phải thực hiện bước này không ?? " :) Nhiều câu hỏi quá ! Nhưng xin để các bạn tự trả lời vậy ! Tôi chỉ trả lời 1 câu thôi ! Bước tiếp theo của quá trình hack - theo lý thuyết - là Scanning . Quá trình Scanning sẽ được đề cập trong bài viết tiếp theo của fantomas311 : " Basic Hacking part II - Scanning" :) Hy vọng bài viết này làm bạn hài lòng Sơ Lược Trace Route Trong bài viết trên tôi đã đề cập đến traceroute. Vậy Traceroute là gì ?? Mời các bạn xem bài viết sau: Traceroute là gì? Traceroute là một chương trình cho phép bạn xác định được đường đi của các gói packets từ máy bạn đến hệ thống đích trên mạng Internet. Một ví dụ về Traceroute! Traceroute có thể làm được gì? Bạn hãy xem ví dụ sau sẽ rõ! C:\windows>tracert 203.94.12.54 Tracing route to 203.94.12.54 over a maximum of 30 hops 1 abc.netzero.com (232.61.41.251) 2 ms 1 ms 1 ms 2 xyz.Netzero.com (232.61.41.0) 5 ms 5 ms 5 ms 3 232.61.41.10 (232.61.41.251) 9 ms 11 ms 13 ms 4 we21.spectranet.com (196.01.83.12) 535 ms 549 ms 513 ms 5 isp.net.ny (196.23.0.0) 562 ms 596 ms 600 ms 6 196.23.0.25 (196.23.0.25) 1195 ms1204 ms 7 backbone.isp.ny (198.87.12.11) 1208 ms1216 ms1233 ms 8 asianet.com (202.12.32.10) 1210 ms1239 ms1211 ms 9 south.asinet.com (202.10.10.10) 1069 ms1087 ms1122 ms 10 backbone.vsnl.net.in (203.98.46.01) 1064 ms1109 ms1061 ms 11 newdelhi-01.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.01) 1185 ms1146 ms1203 ms 12 newdelhi-00.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.02) ms1159 ms1073 ms 13 mtnl.net.in (203.194.56.00) 1052 ms 642 ms 658 ms Tôi cần biết đường đi từ máy tôi đến một host trên mạng Internet có địa chỉ ip là 203.94.12.54. Tôi cần phải tracert đến nó! Như bạn thấy ở trên, các gói packets từ máy tôi muốn đến được 203.94.12.54 phải đi qua 13 hops(mắt xích) trên mạng. Đây là đưòng đi của các gói packets: Netzero(ISP đã gởi dữ liệu đi) -> Spectranet (một nhà công cấp mạng xương sống - Backbone Provider) -> New York ISP -> New York Backbone -> Asia -> South Asia -> India Backbone -> New Delhi Backbone -> một router khác trong New Delhi Backbone -> New Delhi ISP Như vậy, host có địa chỉ ip 203.94.12.54 nằm ở New Delhi, India, South Asia! Bạn cũng có thể telnet đến 203.94.12.54 trên cổng 13(datetime) để xác định giờ GMT qua đó bạn có thể biết được vị trí của host này(yêu cầu là host 203.94.12.54 phải chạy daemon datetime và được định cấu hình đúng về thời gian)! Traceroute hoạt động như thế nào? Trước hết, bạn cần biết về ICMP, TTL và cách làm việc của các routers(bộ định tuyến)! Những kiến thức cơ bản ICMP - Internet Control Message Protocol. ICMP được dùng để thông báo các lỗi xảy ra trong quá trình truyền đi của các gói dữ liệu trên mạng. ICMP thuộc tầng vận huyển - Transpoort Layer! Tầng ứng dụng HTTP FTP Telnet Finger SSH DNS POP3/IMAP SMTP Gopher BGP Time/NTP Whois TACACS+ SSL DNS SNMP RIP RADIUS Archie Traceroute tftp Ping Tầng vận chuyển TCP UDP ICMP OSPF Tầng Internet IP ARP Tầng vật lí Ethernet/802.3 Token Ring (802.5) SNAP/802.2 X.25 FDDI ISDN Frame Relay SMDS ATM Wireless (WAP, CDPD, 802.11) Fibre Channel DDS/DS0/T-carrier/E-carrier SONET/SDH DWDM PPP HDLC SLIP/CSLIP xDSL Cable Modem (DOCSIS) Tất cả các ICMP messages đều được chuyển đi cùng với các IP datagrams. Mỗi ICMP message được gói trong IP datagram sẽ có dạng như sau: +---------------------+-------------------------+ | IP Header(20 bytes) | ICMP message (32 bytes) | +---------------------+-------------------------+ Sau đây là cấu trúc của một IMCP message: (tham khảo RFC792 để biết thêm!) 0 7 8 15 16 31 +-----------------+-----------------+-----------------+ | Type (0 or 8) | Code (0) | 16-bit Checksum | +-----------------+-----------------+-----------------+ | Indentifier | sequence number | +-----------------+-----------------+-----------------+ | | | Optional Data (nội dung tùy thuộc vào Type và Code) | | | +-----------------------------------------------------+ trường type có 15 giá trị khác nhau, tùy thuộc vào từng loại ICMP error message cụ thể. Ví dụ type=3 để chỉ định cho thông báo lỗi "Không đến được đích" - "Destination unreachable" error message! trường code = sub-error dùng để xác định chính xác lỗi đã xảy ra. Ví dụ, type=3 và code=0 nghĩa là "Network Unreachable"(không đến được mạng); nếu type=3, code=1 nghĩa là "Host Unreachable"(không đến được host)... TTL - Time to Live. TTL là một trường 8 bit trong IP header(bạn hãy xem lại cấu trúc của IP header!). TTL là thời gian gói dữ liệu tồn tại trên mạng trước khi nó bị bỏ qua. Người gởi dữ liệu đi sẽ xác định một giá trị TTL trước, thường là từ 32 -> 64. Giá trị này sẽ được giảm đi một khi một khi được chuyển qua một bộ định tuyến trên mạng. Khi giá trị này bằng 0, datagram này sẽ bị bỏ qua và giao thức ICMP sẽ báo lỗi về cho người gởi. Điều này sẽ tránh cho datagram này đi vào một vòng lặp vô tận qua các bộ định tuyến. Mỗi bộ định tuyến khi nhận được IP datagram sẽ giảm giá trị TTL của datagram này đi một. Hầu hết các bộ định tuyến đều không giữ lại datagram này trong thời gian quá 1 giây trước khi chuyển datagram này đi. Nên giá trị TTL có thể coi bằng hop(counter) = số bộ định tuyến mà datagram này vừa vượt qua. Khi bộ định tuyến nhận được một datagram có trường TTL bằng 0 hoặc 1, nó sẽ không chuyển datagram này đi tiếp. Thay vào đó, nó sẽ bỏ qua datagram này và gởi một ICMP message "Time Exceeded"(quá thời gian) trở lại cho người đã gởi datagram này! Vì ICMP message mà bộ định tuyến gởi trở lại cho người gởi có địa chỉ nguồn - source address là địa chỉ ip của bộ định tuyến này nên người gởi có thể biết được địa chỉ ip của router này! Cách làm việc của traceroute! Traceroute gởi một IP datagram có TTL=1 đến hệ thống đích. Router đầu tiên nhận được datagram này sẽ giảm giá trị TTL đi một -> TTL=0 và router này sẽ bỏ qua datagram này(không gởi nó đi tiếp!) và gởi một ICMP error message với địa chỉ ip nguồn là địa chỉ của nó đến máy bạn. Như vậy router có thể xác định địa chỉ ip của router thứ nhất! Sau đó, traceroute sẽ gởi một datagram mới đi với giá trị TTL=2(1+1=2) đến hệ thống đích. Router đầu tiên sẽ giảm giá trị của TTL đi một -> TTL=1(2-1=1) và chuyển datagram này sang router thứ 2. Router thứ 2 nhận được datagram có TTL=1 sẽ giảm TTL=0. Rounter 2 nhận thấy TTL=0 nên nó sẽ không chuyển datagram này đi tiếp. Router 2 sẽ gởi trở lại máy bạn một ICMP error message với địa chỉ ip nguồn là địa chỉ ip của nó(router 2). Như vậy trình traceroute trên máy bạn sẽ biết được router thứ 2 mà datagram đã đi qua. Traceroute sẽ tiếp tục gởi một datagram khác có TTL=3(2+1=3) đi và lặp lại quá trình trên cho đến khi datagram đến được hệ thống đích! Nếu bây giờ IP datagram đã đến được đích, TTL=1. Host đích sẽ bỏ qua datagram này và nó cũng sẽ không gởi "Time Exceeded" ICMP error message. Như vậy thì bạn sẽ không thể nào biết được là mình đã đến đích chưa?! Traceroute dùng một cơ chế khác như sau: Traceroute gởi UDP datagrams đến host đích trên các cổng UDP có số hiệu lớn(>30000). Sở dĩ nó chọn các cổng có giá trị lớn vì thường không có ứng dụng nào đang lắng nghe ở các cổng này. Khi host đích nhận được UDP datagram này, nó sẽ gởi trả lại một ICMP error message "Port Unreachable"(không đến được cổng) cho traceroute. Bây giờ thì traceroute có thể phân biệt được sự khác nhau giữa ICMP error message "Time Exceeded" với "Port Unreachable" để biết được đã đến được đích hay chưa?! Ghi chú: ICMP error message "Time Exceeded" có type=1 và code=0; ICMP eror message "Port Unreachable" có type=3 và code=3 Tổng kết: traceroute gởi UDP datagrams đến host đích với giá trị TTL=1 và được tăng sau mỗi lần để xác định các routers mà datagrams đã đi qua. Mỗi router sẽ gởi trở về một ICMP message "Time Exceeded". Riêng hệ thống đích sẽ gởi trở lại cho traceroute một ICMP message "Port Unreachable". Traceroute dựa vào sự khác biệt này để xác định xem đã đến được đích chưa?! Ví dụ cuối cùng! host2 # traceroute xyz.com traceroute to xyz.com (202.xx.12.34), 30 hops max, 40 byte packets 1 isp.net (202.xy.34.12) 20ms 10ms 10ms 2 xyz.com (202.xx.12.34) 130ms 130ms 130ms Dòng đầu tiên cho biết hostname và địa chỉ IP của hệ thống đích. Dòng này còn cho chúng ta biết thêm giá trị TTL<=30 và="" kích="" thước="" của="" datagram="" là="" 40="" bytes(20-bytes="" ip="" header="" +="" 8-bytes="" udp="" header="" +="" 12-bytes="" user="" data).="" dòng="" thứ="" 2="" cho="" biết="" router="" đầu="" tiên="" nhận="" được="" datagram="" là="" 202.xy.34.12,="" giá="" trị="" của="" ttl="" khi="" gởi="" đến="" router="" này="" là="" 1.="" router="" này="" sẽ="" gởi="" trở="" lại="" cho="" chương="" trình="" traceroute="" một="" icmp="" message="" error="" "time="" exceeded".="" traceroute="" sẽ="" gởi="" tiếp="" một="" datagram="" đến="" hệ="" thống="" đích.="" dòng="" thứ="" 3,="" xyz.com(202.xx.12.34)="" nhận="" được="" datagram="" có="" ttl="1(router" thứ="" nhất="" đã="" giảm="" một="" trước="" đó="" -="" ttl="2-1=1)." tuy="" nhiên,="" xyz.com="" không="" phải="" là="" một="" router,="" nó="" sẽ="" gởi="" trở="" lại="" cho="" traceroute="" một="" icmp="" error="" message="" "port="" unreachable".="" khi="" nhận="" được="" icmp="" message="" này,="" traceroute="" sẽ="" biết="" được="" đã="" đến="" được="" hệ="" thống="" đích="" xyz.com="" và="" kết="" thúc="" nhiệm="" vụ="" tại="" đây.="" trong="" trường="" hợp="" router="" không="" trả="" lời="" sau="" 5="" giây,="" traceroute="" sẽ="" in="" ra="" một="" dấu="" sao="" "*"(không="" biết)="" và="" tiếp="" tục="" gởi="" datagram="" khác="" đến="" host="" đích!="">

Facebook bị khóa là hiện tượng khá phổ biến, đôi khi do lỗi của bạn khi hoạt động tài khoản Facebook như: Spam comment, kết bạn quá nhiều, đổi mật khẩu nhiều,… hoặc nhiều khi không làm gìFacebook vẫn khóa tài khoản tạm thời,  và yêu cầu bạn xác minh để mở khóa.
Cách phổ biến nhất mà Facebook yêu cầu bạn xác minh đó là xác minh qua mã xác nhận được gửi về điện thoại. Với nhiều bạn việc này khá đơn giản, chỉ cần làm theo một vài bước Facebook hướng dẫn, chọn vào yêu cầu gửi mã xác nhận, mã xác nhận gửi về ĐT rồi điền vào là OK.
Tuy nhiên, khá nhiều trường hợp thì việc xác minh tài khoản facebook qua điện thoại gặp phải vấn đề! Các vấn đề hay gặp phải nhất đó là:

1. Sau khi yêu cầu Facebook gửi mã xác nhận thì không thấy gửi về điện thoại


Đây là trường hợp phần lớn các bạn gặp phải.
Lý do: Việc Facebook gửi mã xác nhận về các mạng điện thoại ở Việt Nam gặp vấn đề. Một vài mạng như Viettel, Mobi thì việc nhận được mã xác nhận về máy khó thành công hơn các mạng: Vietnammobile, Vinaphone,…
Ngày đầu, mình có cách để thay đổi số điện thoại để nhận mã xác minh, sau đó mượn một số đt khác. Tuy nhiên, hiện nay Facebook đã không hỗ trợ việc đó nữa.
Cách giải quyết: 
Bước 1: Truy cập vào Form trợ giúp sau của Facebook, bằng cách nhấn vào Link: https://www.facebook.com/help/contact/338822979524831
Bạn sẽ thấy hiện ra giao diện như sau: Hãy hoàn thiện các thông tin như hình dưới nhé!
lỗi không nhận được mã xác minh
Bước 2: Phần thông tin bổ sung bạn có thể gõ vào như mình(Google dịch ý mờ): I did not receive the confirmation code, though I have asked many times to resend it.
ADS BY GOOGLEBước 3: Gửi và chờ Facebook xử lý cho bạn nhé! Theo dõi ở Mail Tài khoản để xem thông báo từ Facebook.

2. Mất số Điện thoại đã đăng ký Facebook


Đây là trường hợp cũng nhiều bạn dính phải. Sim điện thoại lâu rồi có thể đổi số, vứt mất xừ rồi. Bây giờ phải làm sao để xác minh được. Rất may Facebook cũng xử lý các trường hợp này.
Công việc tương tự như trên, bạn cần hoàn thành một Form mẫu điền đầy đủ thông tin và chờ Facebook xử lý!
Bước 1: Truy cập vào Form trợ giúp sau của Facebook, bằng cách nhấn vào Link: https://www.facebook.com/help/contact/283958118330524
Bạn sẽ thấy hiện ra giao diện như sau: Hãy hoàn thiện các thông tin như hình dưới nhé!
xác minh Facebook khi mất số đt
Bước 2: Phần thông tin bổ sung bạn có thể gõ vào như mình(Google dịch ý mờ): lost the SIM phone number used to subscribe to Facebook. So I can not verify my account number over the phone.
Bước 3: Gửi và chờ Facebook xử lý cho bạn nhé! Theo dõi ở Mail Tài khoản để xem thông báo từ Facebook.

Kết luận


Trên đây là 2 trường hợp lỗi khi xác minh tài khoản Facebook qua điện thoại. Và cách xử lý, cách xử lý này là Gửi Form và đợi bên Facebook xử lý. Thời gian tùy thuộc tốc độ xử lý bên đó, vì vậy bạn cần chờ đợi nhé!

Share template blogspot, share code